Đánh giá yếu tố nguy cơ tái phát trong Ung thư tuyến giáp thể biệt hóa

I. Đặt vấn đề:

Một trong những thắc mắc phổ biến nhất của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp thể biệt hóa là: “Vì sao tôi và người bệnh khác đều được chẩn đoán cùng giai đoạn, nhưng tôi lại phải điều trị bằng I-131 với liều cao hơn?” Câu hỏi tưởng như đơn giản, nhưng thực tế phản ánh một nguyên lý cốt lõi trong điều trị ung thư tuyến giáp: việc chỉ định điều trị bổ trợ bằng I-131 không chỉ phụ thuộc vào giai đoạn bệnh theo hệ thống TNM, mà còn dựa vào đánh giá nguy cơ tái phát.

Trong bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ rõ hơn về cách đánh giá nguy cơ tái phát ung thư tuyến giáp thể biệt hóa, theo khuyến cáo của Hiệp hội Tuyến giáp Hoa Kỳ (ATA), là cơ sở quan trọng để quyết định phương pháp và liều lượng điều trị I-131 sau phẫu thuật. Việc hiểu rõ các yếu tố nguy cơ tái phát không chỉ giúp người bệnh yên tâm hơn khi được tư vấn điều trị, mà còn giúp các bác sĩ lâm sàng đưa ra quyết định phù hợp, cá thể hóa điều trị cho từng người bệnh.

II. Nội dung:

Năm 2009, Hiệp hội Tuyến giáp Mỹ (American Thyroid Association – ATA ) đã đưa ra bảng phân tầng yếu tố nguy cơ tái phát Ung thư tuyến giáp thể biệt hóa dựa trên các yếu tố: sự xâm lấn của khối u với vỏ bao tuyến giáp, các cơ quan tổ chức vùng cổ, thể mô bệnh học, số lương, kích thước hạch di căn, xét nghiệm Tg huyết thanh sau phẫu thuật, có hay không có di căn xa. Phân loại chia thành 3 mức nguy cơ tái phát: thấp, trung bình và cao.

Khuyến cáo của ATA năm 2015 đã đưa ra bảng phân loại nguy cơ tái phát sửa đổi căn cứ thêm các yếu tố tiên lượng bổ sung (tình trạng di căn hạch bạch huyết, tình trạng đột biến và/ hoặc mức độ xâm lấn mạch máu trong Ung thư tuyến giáp thể nang) gồm 3 nhóm:

1. Nhóm nguy cơ tái phát thấp: (tỷ lệ tái phát bệnh 1-10 %)

* Ung thư tuyến giáp thể nhú thỏa mãn mọi điều kiện:

– Không có tổn thương tại chỗ và di căn xa

– Khối u về mặt đại thể đã được loại bỏ hoàn toàn

– Sinh học khối u không thuộc nhóm các biến thể mô bệnh học độ ác tính cao: tế bào cao; tế bào đinh tán; tế bào trụ..

– Nếu nhận liều I-131 thì xạ hình sau điều trị chỉ bắt tại vị trí giường tuyến giáp mà không có di căn xa

– Tế bào u không xâm lấn mạch máu

– Không di căn hạch (N0); hoặc di căn < 5 hạch; kích thước < 0,2cm.

* Ung thư tuyến giáp thể nhú biến thể nang, trong bao tuyến giáp

* Ung thư tuyến giáp thể nang có xâm nhập vỏ và không/ hoặc xâm nhập mạch tối thiểu (< 4 điểm), trong bao tuyến giáp.

* Trong bao tuyến giáp, vi Ung thư tuyến giáp thể nhú, một khối hay nhiều khối, bao gồm BRAF đột biến (nếu có).

—> Nhóm này có thể không cần nhận điều trị I-131, hoặc nếu điều trị liều 30mCi được chỉ định. ( Tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá bệnh nhân Ung thư tuyến giáp không cần nhận liều I-131 sau phẫu thuật chúng tôi sẽ trình bày ở bài sau)

2. Nguy cơ tái phát trung bình: (Tỷ lệ tái phát bệnh 10-40%  )

* U xâm lấm đại thể phần mềm xung quanh tuyến giáp

* Điểm di căn bắt I-131 trong vùng cổ trên xạ hình toàn thân sau điều trị lần đầu.

* Yếu tố sinh học: các biến thể mô bệnh học độ ác tính cao như tế bào cao; tế bào đinh tán; tế bào trụ..

* Ung thư tuyến giáp thể nhú xâm nhập mạch

* Di căn > 5 hạch với kích thước hạch < 3cm.

* Vi Ung thư tuyến giáp thể nhú nhiều khối với BRAFV600E đột biến (nếu có).

—> Nhóm này, khuyến cáo điều trị xóa bỏ nhu mô tuyến giáp còn lại sau phẫu thuật với liều 30mCi. Tuy nhiên, tùy theo mức độ nhu mô còn lại sau phẫu thuật mà điều trị I-131 bổ trợ có thể lên đến liều 150mCi.

3. Nguy cơ tái phát cao: (tỷ lệ tái phát bệnh 30 – 55%)

* U xâm lấn đại thể xung quanh tuyến giáp (các tổ chức – cơ quan)

* Phẫu thuật lấy u không hoàn toàn

* Di căn xa

* Nồng độ Tg huyết thanh sau phẫu thuật gợi ý di căn

* Di căn hạch bất kỳ với kích thước > 3cm

* Ung thư tuyến giáp thể nang với xâm nhập mạch (> 4 điểm xâm nhập mạch).

—> Nhóm này, được khuyến cáo điều trị bổ trợ I-131 có thể lên đến 150mCi. Nếu còn tổn thương liều I-131 có thể từ 100 -200mCi ( Với người cao tuổi > 70 tuổi liều khuyến cáo từ 100 – 150mCi).

III. Kết luận:

Việc đánh giá nguy cơ tái phát trong ung thư tuyến giáp thể biệt hóa là bước then chốt trong chiến lược điều trị toàn diện, giúp bác sĩ đưa ra chỉ định chính xác về việc sử dụng I-131, liều lượng cũng như thời điểm điều trị. Phân tầng nguy cơ theo khuyến cáo của ATA không chỉ dựa vào giai đoạn TNM mà còn tích hợp nhiều yếu tố như: đặc điểm mô bệnh học, mức độ xâm lấn, tình trạng di căn hạch, đột biến gen, chỉ số Tg sau mổ, v.v.

Chúng tôi hy vọng qua bài viết này, quý bệnh nhân có thể hiểu rõ hơn vì sao bác sĩ đưa ra kế hoạch điều trị như vậy, đồng thời nâng cao sự tin tưởng và hợp tác trong quá trình theo dõi sau điều trị. Đối với các đồng nghiệp chuyên khoa phẫu thuật, giải phẫu bệnh và nội tiết, việc cung cấp đầy đủ thông tin chi tiết về kích thước, vị trí, mức độ xâm lấn và các đặc điểm mô học của khối u sẽ giúp quá trình đánh giá nguy cơ tái phát trở nên chính xác hơn, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị, tiên lượng và chăm sóc bệnh nhân ung thư tuyến giáp một cách tối ưu nhất.